Chứng phế khí suy tuyệt

Chứng phế khí suy tuyệt thường gặp trong các bệnh như ho, háo suyễn, lao phổi, phế nuy, phế ung, ở giai đoạn cuối thường ho ra máu. Chứng này phần nhiều do hư chứng, cũng có những trường hợp từ thực chứng chuyển thành hư chứng như: đờm ẩm, thủy thấp, ứ huyết làm tắc nghẽn kinh mạch. Cũng có trường hợp do sức khỏe sút kém, già yếu... chính khí ở trong không thắng nổi tà khí bên ngoài. Cũng có trường hợp ăn uống kém vị khí ở trung tiêu (tỳ vị) suy kém không đủ khí đưa lên thượng tiêu (tâm và phế) để dẫn huyết đi nuôi cơ thể, dương khí ở cơ bắp phủ tạng bị thoát ra ngoài cho nên tay chân và toàn cơ thể lạnh nhưng mồ hôi tiết ra thành từng giọt, lúc này bệnh nhân mạch phù tán hoặc vi nhược như muốn tuyệt, sắc mặt trắng bợt hoặc tím tái.

Triệu chứng hơi thở yếu suyễn gấp, ra mồ hôi tay chân lạnh.

Phép trị: Bổ khí ích khí cố thoát.

Bài thuốc “Độc sâm thang”: Bạch sâm cao ly 30g, (nếu hồng sâm 40g) đại táo 16g. Sắc uống liên tục. Bài thuốc có tác dụng: Đại bổ nguyên khí, khi dương khí thoát ra ngoài đột ngột, tinh thần lơ mơ, tay chân lạnh, ra mồ hôi, mạch vị nhược. Tây y áp dụng trong trường hợp cấp cứu suy tim bệnh nhân bị choáng ngất (bài thuốc được đăng trong bộ sách “Thập dược thần thư”.

Chứng phế khí suy tuyệt thường gặp trong các bệnh phổi.

Hoặc dùng bài “Sâm phụ thang”: Sâm cao ly 20g, sinh khương 12g, phụ tử (chế) 40g, đại táo 12g. Sắc uống. Bài thuốc có tác dụng: Bổ nguyên khí do nguyên khí bị hư tổn nhiều, dương khí thoát đột ngột, tay chân quyết lạnh, mồ hôi ra lạnh và dính, hơi thở yếu, suyễn gấp, đại tiện phân lỏng, mạch vi muốn tuyệt (bài thuốc được đăng trong tập sách “Phụ nhân lương phương”.

Trong trường hợp chính khí muốn thoát do tà khí thịnh, có suyễn thở, hơi thở thô, có đờm khò khè nơi cổ họng, huyết ứ không lưu thông, ra nhiều mồ hôi, mạch tán đại.

Phép trị: Ích khí cố thoát cứu phế khí hóa đờm.

Bài thuốc “Sinh mạch tán”: Sâm cao ly 20g, ngũ vị tử 12g, mạch môn 12g, Tùy chứng trạng của bệnh nhân có thể gia giảm cho thích hợp. Bài thuốc có tác dụng trị sốt cao làm tổn thương nguyên khí, người mệt mỏi, tay chân rã rời, đoản hơi, khát nước, ra mồ hôi không dứt.

Chứng phế khí suy tuyệt cũng có khi thường gặp ở những người bệnh trước khi lâm chung, bệnh nặng hiểm nghèo ở giai đoạn cuối. Bệnh phế khí suy tuyệt khi đã ngừng thở kết thúc sự sống, phải cấp cứu tích cực mới cứu được sinh mạng của bệnh nhân.

TTND. BS. Nguyễn Xuân Hướng

Trị nhiệt miệng hiệu quả bằng bài thuốc dân gian

Uống nước khế chua

Khế tươi 2 - 3 quả, giã nát, đổ ngập nước sôi vào đun sôi một lúc, chờ khi thuốc nguội thì ngậm và nuốt dần, ngậm nhiều lần trong ngày. Lựa loại khế chua, giúp sinh tân dịch nhiều hơn, thanh nhiệt cũng tốt hơn khế ngọt.

Lá rau ngót

Rửa sạch, chỉ lấy lá, giã nát, ép lấy nước cốt, hòa với ít mật ong. Dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ sưng đau, lở loét. Ngày bôi 2 - 3 lần. Có tác dụng giống như cỏ nhọ nồi. Theo Đông y, lá và rễ đều có tác dụng mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc, trị nhiệt miệng.

Cà chua

Các bài thuốc Đông y cho thấy cà chua là loại quả có tính bình, vị chua, hơi ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc nên nhai cà chua sống là cách làm rất công hiệu trong trường hợp này. Hoặc bạn cũng có thể ngậm nước ép cà chua mỗi ngày khoảng 3 – 4 lần, sẽ có tác dụng rất tốt.

Vỏ dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải độc.

Vỏ dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải độc.

Vỏ dưa hấu

Theo Đông y, vỏ dưa hấu có tính hàn, thường để điều trị các bệnh nóng trong, có tác dụng thanh nhiệt giải độc nên có thể dùng vỏ dưa hấu để chữa nhiệt miệng, lở miệng. Lấy 50g vỏ dưa hấu đem sao vàng, tán thành bột, trộn cùng một ít mật ong và bôi vào chỗ lở 1-2 lần/ ngày.

Lá húng chó

Rửa sạch lá húng chó. Sau đó, nhai lá húng chó đã rửa sạch rồi nhấp vài ngụm nước lạnh. Mỗi ngày ăn 3 đến 5 lần.

Cách phòng chống nhiệt miệng

Cố gắng tránh các loại thực phẩm có vẻ như gây kích ứng miệng. Đây có thể bao gồm các loại hạt, khoai tây chiên, bánh quy, các loại gia vị nào đó, thức ăn mặn và các loại trái cây có tính axit, chẳng hạn như dứa, bưởi và cam. Hãy chắc chắn tránh bất kỳ loại thực phẩm nhạy cảm hoặc dị ứng.

Chọn thực phẩm lành mạnh. Để giúp ngăn ngừa thiếu hụt dinh dưỡng, ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc. Thường xuyên ăn sữa chua có chứa các vi khuẩn có lợi hoặc cũng có thể giúp tránh viêm loét đau miệng.

Không nhai và nói chuyện cùng một lúc. Có thể gây ra chấn thương nhỏ lớp tế bào của miệng.

Thực hiện theo thói quen vệ sinh răng miệng tốt. Thường xuyên đánh răng sau bữa ăn và dùng chỉ nha khoa mỗi ngày một lần có thể giữ cho miệng sạch sẽ. Sử dụng bàn chải mềm để giúp ngăn ngừa kích ứng mô miệng, và tránh các loại kem đánh răng và nước súc miệng có chứa sodium lauryl sulfate.

Nên ăn các món luộc, rau, củ, quả và trái cây... Hạn chế ăn đồ xào, cay nóng, nhiều dầu mỡ, uống nhiều nước, bổ sung vitamin bằng các loại rau quả tươi.

Súc miệng bằng nước muối ấm 3 lần/ngày có thể chữa được nhiệt miệng.

3 mẹo trị da nhờn đơn giản tại nhà3 mẹo trị da nhờn đơn giản tại nhàYêu thế nào để... có chồng?Yêu thế nào để... có chồng?5 bí quyết đối phó với cơn đau đầu5 bí quyết đối phó với cơn đau đầu

(Theo VTC)

Chữa vô sinh nữ theo 10 nguyên nhân gây bệnh

Theo Đông y, điều trị vô sinh nữ chủ về huyết, điều hòa kinh nguyệt. Việc điều trị phụ nữ vô sinh, hiếm muộn trọng điều hòa, nuôi dưỡng các mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới (các mạch dẫn khí huyết nuôi dạ con). Nếu khí huyết thông suốt, kinh nguyệt điều hòa thì các mạch nuôi dưỡng dạ con không ứ trệ và tử cung, buồng trứng không có bệnh.

Những nguyên nhân gây vô sinh - hiếm muộn nữ

Thiên Phụ đạo xán nhiên của Hải Thượng Lãn Ông có nói: “Đàn bà không có thai do tà lục dâm thất tình làm tổn thương mạch xung, mạch nhâm, hoặc bệnh cũ ẩn nấp trong tạng phủ, hoặc tử cung hư lạnh, hoặc khí thịnh huyết suy, nhiệt phục trong huyết hoặc tỳ vị hư tổn không thể nuôi dưỡng mạch xung, mạch nhâm; hoặc tích huyết, tích đờm ngưng trệ ở bào lạc.

Thiên Thượng cổ thiên chân luận của Tố Vấn nói: “Con gái 14 tuổi thiên quý sinh ra nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh kinh nguyệt xuống đúng kỳ nên mới sinh con...”.

vo sinh

Theo Nam nữ khoa của Phó Thanh Chủ, phụ nữ có 10 nguyên nhân không thể thụ thai:

1. Gầy yếu quá không thể thụ thai.

2. Người bệnh cảm thấy đầy trướng trong ngực, chán ăn mà không thụ thai.

3. Nửa người phía dưới lạnh không thụ thai.

4. Ăn no bụng nực đầy trướng kèm theo hoặc nôn ói, hoặc tiêu chảy, không thụ thai.

5. Bụng dưới căng tức, không thụ thai.

6. Vì có tính nghen nghét mà không thụ thai.

7. Béo mập quá không thụ thai.

8. Nóng ngầm trong xương, cứ ban đêm người hâm hấp sốt vì thế mà không thụ thai.

9. Lưng đau, bụng trướng, không thụ thai.

10. Bụng trướng, tiểu tiện khó khăn, chân phù thũng, không thể thụ thai.

Những bài thuốc

Dưới đây là các bài thuốc dựa vào cách của người xưa mà có sự gia giảm thu hiệu quả rất cao.

Phụ nữ béo mập quá là do thấp thịnh khí suy nên khó có thai: dùng Bổ trung ích khí gia giảm.

Bài thuốc: nhân sâm 3 chỉ, sanh kỳ 3 chỉ, đương quy (rửa rượu) 3 chỉ, chế bán hạ 3 chỉ, bạch truật 1 lượng, chích thảo 1 chỉ, sài hồ 1 chỉ, thăng ma 1 chỉ, quảng bì 5 chỉ, bạch linh 5 chỉ.

Nên uống 18 thang, 10 thang sau gia đỗ trọng sao đen 2 chỉ, tục đoạn 2 chỉ, sắc ngày uống một thang.

Phụ nữ gầy ốm thì khí huyết suy nhược, nhiệt tích ở hạ tiêu nhiều, chân khí hư yếu: dùng Dưỡng huyết chủng ngọc phương.

Bài thuốc: thục địa 1 lượng, đương quy (rửa rượu) 5 chỉ, bạch thược (rửa rượu) 5 chỉ, sơn thù (chưng chín) 5 chỉ. Ngày sắc uống 1 thang, uống liên tục 3 tháng, khí huyết dồi dào rất dễ thụ thai.

Phụ nữ có tính hay sợ hãi, không thiết ăn uống, trong ngực cảm thấy đầy trướng buồn phiền, suốt ngày mệt mỏi li bì chỉ muốn ngủ, không thích chuyện phòng the, do thận khí bất túc: dùng Thăng đề thang.

Bài thuốc: thục địa 1 lượng, bạch truật 1 lượng, ba kích (tẩm muối sao) 1 lượng, nhân sâm 5 chỉ, sanh kỳ 5 chỉ, sài hồ 1 chỉ, câu kỷ tử 3 chỉ, sơn thù(chưng) 3 chỉ. Ngày sắc 1 thang, uống liên tục 3 tháng thận khí thịnh vượng, chắc chắn có con.

Trong ngực đầy trướng, ăn ít, ăn nhiều một chút người ậm ạch rất khó chịu không thể có thai: dùng Ôn thổ dục lân thang.

Bài thuốc: phúc bồn tử (tẩm rượu chưng) 1 lượng, ba kích nhục (tẩm rươu):1 lượng, sơn dược (sao vàng) 5 chỉ, bạch truật (sao) 5 chỉ, nhân sâm 3 chỉ, thần khúc (sao) 2 chỉ. Ngày sắc uống 1 thang, uống liền 1 tháng là có hiệu quả.

Phụ nữ có chứng nóng ngầm trong xương, cứ đêm đến là người sốt hâm hấp, không thể thụ thai, dùng: Thanh cốt tư thận thang.

Bài thuốc: địa cốt bì (rửa rượu): 1 lượng, đơn bì 5 chỉ, sa sâm 5 chỉ, mạch môn 5 chỉ, huyền sâm 5 chỉ, bạch truật(sao) 5 chỉ, thạch hộc 2 chỉ, ngũ vị tử (sao rồi giã nát) 1/2 chỉ. Ngày 1 thang, uống liền 1 tháng bệnh tật sẽ giải trừ, uống thêm 2 tháng nữa thì tự nhiên thụ thai.

Nửa người phía dưới lạnh (lạnh tử cung), hãy xem vùng đất băng giá thì cây cỏ làm sao sống nổi, dùng: Ôn bào ẩm.

Bài thuốc: bạch truật (sao vàng):1 lượng, ba kích nhục (tẩm nước muối) 1 lượng, nhân sâm 3 chỉ, hoài sơn (sao) 3 chỉ, đỗ trọng (sao đen) 3 chỉ, thố ty tử (sao rượu) 3 chỉ, khiếm thực (sao) 3 chỉ, nhục quế 2 chỉ, bổ cốt chí (sao muối) 2 chỉ, phụ tử 1/2 chỉ. Ngày một thang uống liền 1 tháng thì bào cung ấm áp sẽ thụ thai dễ dàng.

Bụng dưới căng tức, không lúc nào thấy thoải mái trong lòng là do đới mạch bị gò bó, dùng: Khoan đới thang.

Bài thuốc: bạch truật (sao vàng) 1 lượng, ba kích nhục (tẩm rượu) 5 chỉ, nhân sâm 3 chỉ, tửu bạch thược 3 chỉ, mạch môn 3 chỉ, đỗ trọng (sao đen) 3 chỉ, nhục thung dung (rửa rượu) 3 chỉ, ngũ vị 1/2 chỉ, liên nhục (để tâm) 2 chỉ, thục địa 5 chỉ, đương quy (rửa rượu) 2 chỉ, bổ cốt chí 1 chỉ. Uống 4 thang thì bụng dưới hết căng tức, uống liền một tháng tất phải thụ thai.

Bụng trướng, tiểu tiện khó khăn, chân phù thũng không thể thụ thai, là do khí của bàng quang không vận hóa được, dùng: Hóa thủy chủng tử thang.

Bài thuốc: ba kích nhục 1 lượng (tẩm muối), bạch truật (sao vàng) 1 lượng, nhân sâm 5 chỉ, bạch linh 5 chỉ, thố ty tử 5 chỉ, khiếm thực 5 chỉ, xa tiền tử (sao rượu) 3 chỉ, nhục quế 1 chỉ. Uống 20 - 30 thang bàng quang khí hóa, thận khí thịnh vượng thì tự có thai.

Phụ nữ có tính ghen ghét là do can khí uất kết không thể có thai dùng: Khai uất chủng tử thang.

Bài thuốc: bạch thược (sao rượu) 1 lượng, đương quy (sao rượu) 5 chỉ, bạch truật (sao vàng) 5 chỉ, đơn bì 3 chỉ, bạch linh 3 chỉ, hương phụ chế 3 chỉ, thiên hoa phấn 2 chỉ. Uống liền 1 tháng tất cả uất khí kết sẽ khai thông, trong lòng tràn đầy vui vẻ làm cho lòng đố kỵ hẹp hòi cũng thay đổi theo, đôi bên hòa hợp rất dễ thụ thai.

Lưng đau ê ẩm, ngực đầy bụng trướng, mệt mỏi uể oải, chân tay rã rời, lúc nào cũng cảm thấy li bì chỉ muốn nằm, đã dùng trăm kế cầu tự mà vẫn không có con do bệnh mạch Nhâm, mạch Đốc và mạch Đới gây nên dùng: Thăng đới thang.

Bài thuốc: bạch truật (sao vàng) 1 lượng, sa sâm 5 chỉ, nhân sâm 3 chỉ, bột tề phấn 3 chỉ, miết giáp 3 chỉ, bạch linh 3 chỉ, nhục quế 1 chỉ, bán hạ chế 1 chỉ, thần khúc (sao) 1 chỉ. Uống liên tục 30 thang thì kinh khí của các mạch Nhâm, Đốc, Đới sẽ thịnh vượng, các chứng tích tụ tiêu trừ rất dễ sinh con.

Trong thời gian điều trị, người bệnh cần ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, tránh căng thẳng, phiền muộn.

BS. NGUYỄN PHÚ L M

((Chủ tịch Hội Đông y huyện Mang Thít, Vĩnh Long))

Loại rau rẻ tiền giúp trị nhiệt miệng hiệu quả nhất

Nhiệt miệng là tên gọi dân gian của bệnh viêm loét niêm mạc miệng, là một bệnh lý thường gặp thuộc về răng miệng bởi nhiều nguyên nhân.

loại rau trị nhiệt miệng

Rau húng quế rất thích hợp để điều trị nhiệt miệng.

Người bị nhiệt miệng thường có cảm giác đau đơn, khó chịu khi nói chuyện, há miệng hay khi nhai do bệnh nhiệt miệng thường hay xuất hiện ở các vùng lưỡi, môi, lợi hay vùng trong má.

Nhiệt miệng thường xuất hiện ở trên lưỡi, môi, lợi hay bên trong thành má. Trong dân gian cũng có nhiều cách chữa nhiệt miệng nhanh chóng và khá hiệu quả.

Biểu hiện của bệnh nhiệt miệng

Biểu hiện của bệnh là: trong niêm mạc miệng xuất hiện một hoặc nhiều đốm trắng to 1 – 2 mm, đốm trắng to dần hơi mọng nước, vài ngày sau đồng loạt vỡ ra tạo thành vết loét.

Vết loét to dần, có khi tới 10 mm làm ảnh hưởng nhiều đến ăn uống sinh hoạt và giao tiếp. Nếu không có biến chứng vết loét tự lành sau 10 – 15 ngày rồi lại tái diễn đợt khác tương tự.

Rau diếp cá

Dùng 100g rau diếp cá nhặt bỏ phần già, đem rửa sạch, để ráo nước. Sau đó đem xay nhuyễn rồi uống ngày 2-3 lần sẽ giúp giải nhiệt cơ thể và làm vết loét do nhiệt miệng mau lành hơn.

Bạn cũng có thể dùng 2-6g rau diếp cá sắc lấy nước, chia ra uống nhiều lần trong ngày, liên tục trong vài ngày sẽ mau chóng chữa khỏi nhiệt miệng cho bạn.

Lá rau ngót

Rửa sạch, chỉ lấy lá, giã nát, ép lấy nước cốt, hòa với ít mật ong. Dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ sưng đau, lở loét. Ngày bôi 2 - 3 lần.

Lá húng chó

Lá húng chó có tính ấm, chứa tinh dầu, khả năng làm mát máu, giảm đau kháng viêm, vì vậy rất thích hợp để điều trị nhiệt miệng.

Theo cách làm của dân gian, nhiệt miệng được trị bằng cách rất đơn giản: hái vài lá húng chó, rửa sạch sau đó nhai kĩ và nhấp vài ngụm nước lạnh. Mỗi ngày ăn khoảng 6 lần, chia đều các ngày.

Trị nhiệt miệng bằng cà chua

Không chỉ là thực phẩm tuyệt vời cho sức khoẻ, cà chua cũng là một vị thuốc trong y học phương Đông. Với tính bình, vị chua, hơi ngọt, cà chua có tác dụng thanh nhiệt cũng như giải độc hiệu quả.

Để chữa nhiệt miệng, hãy ép cà chua lấy nước, sau đó ngậm nước ép ngày khoảng 4 lần trong ngày sẽ thấy hiệu quả rõ rệt.

5 việc làm quen thuộc đang hủy hoại cơ thể bạn từng ngày5 việc làm quen thuộc đang hủy hoại cơ thể bạn từng ngày9 cách sử dụng bao cao su phụ nữ cần biết để bảo vệ chính mình9 cách sử dụng bao cao su phụ nữ cần biết để bảo vệ chính mìnhNhững thức uống thanh lọc cơ thể cực hiệu quả trong ngày nắngNhững thức uống thanh lọc cơ thể cực hiệu quả trong ngày nắng

(Theo Khỏe & Đẹp)

Bài thuốc trị chứng tâm thận bất giao ở người cao tuổi

Theo học thuyết Đông y: “Tâm (tim) với thận trong trạng thái bình thường, có mối quan hệ trên dưới cùng giao nhau, để thủy hỏa giúp đỡ lẫn nhau. Người xưa đã đưa ra lý lẽ “Hậu thiên của thận là tiên thiên của tâm, hậu thiên của tâm là tiên thiên của thận”. Khi tâm có bệnh muốn bổ tâm thì phải thực thận, trái lại muốn bổ thận thì phải dưỡng tâm.

Biểu hiện: Tâm phiền mất ngủ, khi ngủ thì hay mê, nói sảng, di tinh, lưng đùi đau mỏi, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm, nếu bệnh nặng thì hồi hộp, hoa mắt ù tai, người mệt mỏi, tiểu đêm 2-3 lần, có khi nhiều hơn, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc không có rêu, mạch tế sác.

Chứng tâm thận bất giao do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến, trên lâm sàng triệu chứng cũng không giống nhau. Cần phân biệt chứng tâm thận bất giao với chứng tâm hỏa và chứng tâm thận bất giao với chứng tâm âm hư.

Chứng tâm thận bất giao với chứng tâm hỏa cang thịnh: do mệt nhọc quá độ làm ngũ chí quá thực dẫn đến âm hư ở dưới, hỏa vượng ở trên nên thường gọi là “hư hỏa”

Triệu chứng: tân dịch kém, ngũ tâm phiền nhiệt, ra mồ hôi trộm, di tinh, mộng tinh, lưng gối đau mỏi, chất lưỡi đỏ không có rêu, mạch tế sác. Đó là do hỏa của hai chứng vừa thực vừa hư.

Chứng tâm hỏa cang thịnh là do tình chí uất kết hóa hỏa, hoặc do lục dâm nội uất hóa hỏa, hoặc do ăn nhiều thức ăn cay nóng làm tâm hỏa thịnh, rối loạn tâm thần, ở trên thì bốc lên miệng, biểu hiện ra lưỡi, sinh ra chứng miệng đắng, khát nước, loét miệng, loét lưỡi, nếu dồn xuống dưới thì sinh chứng niệu đạo nóng rít, nước tiểu đỏ, mạch sác.

Chứng tâm thận bất giao với chứng tâm âm hư: có biểu hiện miệng khô họng ráo, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, tâm thần không yên, hồi hộp, mất ngủ, mê ngủ, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác

Chứng tâm thận bất giao ở người cao tuổi gây mất ngủ, có khi suốt đêm không ngủ, thời gian mất ngủ kéo dài, có kiêm cả thận âm hư tổn, lưng gối đau mỏi, yếu mềm, tai ù, váng đầu, di tinh.

Còn chứng tâm âm hư nguyên nhân ban đầu là do thể chất hư yếu, sau khi ốm nặng hoặc bị mất nhiều máu, hoặc do tinh thần kích động làm tổn hao tâm huyết, ngủ chập chờn, chứ không mất ngủ nghiêm trọng như chứng tâm thận bất giao, vì âm không liễm được dương.

Do tâm thận bất giao sinh chứng tâm thần không yên, tim đập nhanh hồi hộp.

Sau đây là phương pháp điều trị tùy thể bệnh

Do tâm thận bất giao sinh chứng kinh quý, chính xung (tim hồi hộp). Thận tinh không đầy đủ, thủy không chế được hỏa, tâm hỏa ở trong bị kích động mà sinh bệnh.

Triệu chứng: Trằn trọc khó ngủ, khi gặp sự việc bức xúc thì đêm nằm không ngủ, tim hồi hộp, người mệt mỏi, mắt hoa tai ù, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác. Điều trị: thanh tâm an thần, dưỡng tâm huyết.

Bài thuốc: Thiên vương bổ tâm đan gồm: thục địa 120g, nhân sâm 80g, huyền sâm 60g, đan sâm 80g, thiên môn 60g, mạch môn 60g, bá tử nhân 60g, thạch xương bồ 60g, đỗ trọng 80g, đại táo 20 quả, đương quy 80g, ngũ vị tử 40g, phục linh 80g, phục thần 60g, cát cánh 60g, hắc táo nhân (táo nhân sao đen) 80g, viễn chí 80g, bách bộ 60g, cam thảo 40g, đăng tâm 40g, kim bạc 60 lá.

Cách dùng: Tán bột làm viên hoàn mật mỗi viên 4g, ngày uống 3 lần mỗi lần uống 1 viên với nước đun sôi để ấm. Nếu dùng thuốc sắc thì dùng liều lượng 1/10. Ngày uống một thang sắc uống 3 lần trong ngày. Uống 3 liệu trình, mỗi liệu trình uống 10 ngày, nếu dùng thuốc sắc thì không dùng kim bạc.

Do tâm thận bất giao sinh chứng bất mỵ (mất ngủ). Do thận thủy bất túc, tâm hỏa quá vượng mà sinh bệnh.

Triệu chứng: Bệnh nhân trong tâm phiền muộn, ngủ kém, khi ngủ hay mê sảng, miệng khô tân dịch ít, có kiêm chứng váng đầu ù tai, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Điều trị: Tư âm thanh nhiệt, tráng thủy chế hỏa.

Bài thuốc: Hoàng liên A giao thang gồm: hoàng liên 16g, kê tử hoàng 2 quả, hoàng cầm 8g, a giao 12g, bạch thược 8g.

Cách dùng: Ngày uống một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn hoặc lúc đói, tùy chứng trạng của bệnh nhân có thể gia giảm cho thích hợp. Nếu âm hư nhưng hỏa không mạnh thì dùng bài Thiên vương bổ tâm đan để điều trị.

Do tâm thận bất giao sinh chứng kiện vọng (hay quên). Do thận tinh hao tổn nhiều, tâm thần mất đi sự nuôi dưỡng mà sinh bệnh.

Triệu chứng: Bệnh nhân ngủ kém, có khi mất ngủ suốt đêm, hay quên, phiền nhiệt, lưng đùi mềm yếu, di mộng tinh, tai ù chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Điều trị: Tư bổ thận tinh, dưỡng tâm an thần.

Bài thuốc: Lục vị địa hoàng hoàn gia vị: thục địa 16g, hoài sơn 12g, sơn thù 8g, bạch linh 12g, trạch tả 12g, đan bì 8g, hắc táo nhân 20g, viễn chí 8g, ngũ vị tử 6g, thạch xương bồ 8g, liên nhục 12g.

Cách dùng:Ngày uống một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn hoặc lúc đói.

Chú ý: Ngoài điều trị bằng thuốc thì điều dưỡng về tinh thần, ăn uống, phải “thanh tâm quả dục”.

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng

Thuốc hay từ con lửng lợn

Lửng lợn (Arctonyx collaris F. cuvier) thuộc họ chồn (Mustelidae), tên khác là chồn hoang, con cúi, là một loài thú hoang dã có thân hình hơi dẹp, dài 70-80cm, đuôi dài 20-25cm, trọng lượng 12-14kg, có thể đến 20kg vào mùa đông. Đầu thuôn nhỏ, mõm dài, tai tròn, mắt nhỏ. Chân khá cao, bàn chân có bản rộng cong, có móng vuốt dài. Bộ lông thô gồm lông gốc màu trắng đầu màu nâu, lông ở bốn chân và bụng toàn màu thẫm. Từ đầu đến mõm có một vạch rộng màu trắng. Má, cổ, viền tai đều màu trắng nhạt.

Lửng lợn sống ở rừng núi Việt Bắc, khu bốn cũ, Tây Nguyên, các tỉnh miền Trung.

Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, lửng lợn được dùng với tên thuốc là suyền hay chuyên gồm các bộ phận: thịt, xương, mỡ và mật.

Thịt lửng lợn (suyền nhục) có vị chua, ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ tỳ vị, lợi thũng, giảm ho, chữa hư lao, gầy yếu, ho khan, kiết lỵ lâu ngày, thủy thũng, trẻ em cam tích. Muốn lấy thịt, người ta lột da lửng lợn, nhẹ nhàng bóc tách tuyến hôi ở gần gốc đuôi và phía trên hậu môn (chú ý không làm vỡ tuyến này vì thịt sẽ có mùi hôi khó chịu, không ăn được). Thịt lửng lợn được dùng tươi cũng ngon như thịt các loài thú rừng khác. Dạng dùng thông thường là thức ăn - vị thuốc với liều lượng mỗi ngày 50-100g. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác nguồn gốc thực vật.

Xương lửng lợn (suyền cốt) có vị cay, chua, tính ấm chữa tê thấp, gân xương đau buốt, chân tay tê mỏi, lở ngứa do thấp nhiệt. Đem xương ngâm nước ấm trong nhiều giờ hoặc luộc qua rồi róc hết thịt, gân màng còn bám vào. Chặt nhỏ, phơi hoặc sấy, sao cho vàng giòn, tán bột. Lấy 100g bột ngâm với một lít rượu, để càng lâu càng tốt. Ngày uống hai lần, mỗi lần một chén nhỏ.

Mỡ lửng lợn (suyền cao) có vị ngọt, tính bình, có tác dụng làm se, chữa bỏng (bỏng lửa và bỏng nước), nứt nẻ gót chân (nhất là về mùa đông), chốc lở. Thái mỡ lá thành từng miếng mỏng, đun cho chảy. Để nguội, dùng bôi nhiều lần trong ngày. Ngoài ra, ở một vài địa phương, nhân dân còn dùng mật lửng lợn để điều trị bệnh như mật gấu và gọi lửng lợn là gấu lợn.

DS. Hữu Bảo

Lộc nhung - hồng sâm tửu giúp tráng dươngLộc nhung - hồng sâm tửu giúp tráng dươngBài thuốc chữa buồng trứng đa nangBài thuốc chữa buồng trứng đa nangMần tưới lợi tiểu, bổ dạ dàyMần tưới lợi tiểu, bổ dạ dày

“Ba món” chữa cảm mạo

Ba món chữa cảm mạo phong hàn

Cảm mạo phong hàn mới mắc, triệu chứng chính là nặng đầu hay đau đầu, sợ lạnh, tứ chi căng đau, phát sốt nhưng không ra mồ hôi, kèm có nghẹt mũi, chảy mũi nước trong. Người bệnh cảm thấy miệng không khát, khạc đàm trắng loãng, khi soi gương tự quan sát thấy rêu lưỡi trắng mỏng. Phương pháp thực liệu với tân ôn giải biểu (làm ấm cho vã mồ hôi) là chính, gồm 3 món như sau:

Ngũ thần ẩm: kinh giới, lá tía tô, gừng tươi với mỗi thứ 10g đều thái nhuyễn, cùng với trà 6g hãm trong nước sôi trong một thời gian, rồi trộn đều với đường đen 30g, sau khi nấu sôi uống ngay lúc nóng, sau khi uống đắp chăn, nếu vã mồ hôi chưa nhiều, 1 tiếng sau lại uống 1 lần, tức sẽ cho cảm giác sợ lạnh, đau mình giảm xuống một mức độ nhất định. Người lạnh bên ngoài (biểu hàn), mình đau người nặng, có thể thêm ma hoàng 6g, quế chi 9g để tăng sức làm ấm cho ra mồ hôi của thuốc.

cam mao

Cháo song bạch ngọc: gạo tẻ 50g thêm nước nấu cháo, sau khi sôi thêm vào nửa bó cải thảo đã thái lát, hành đoạn 20g và gừng tươi 10g, nấu cho đến khi cải và hành mềm, cháo đặc, nêm ít muối thì dùng. Món cháo xúc tiến vã mồ hôi, tán hàn khí, lại điều hòa vị khí (chức năng tiêu hóa), làm cho ra mồ hôi mà không gây tổn thương chánh khí (thể lực), nhất là thích hợp dùng cho người cao tuổi.

Canh đậu phụ - jambon - cải bẹ xanh: đậu phụ 100g thái lát, cùng jambon sợi 50g dùng ít dầu đậu phộng xào sơ, thêm 1 lít nước dùng, gừng tươi 10g nấu sôi, thêm cải bẹ xanh 30g, bột tiêu, ngò nhuyễn trước khi bắc khỏi bếp, nêm muối uống ngay lúc nóng. Bệnh cảm ngoài triệu chứng sợ lạnh; đau mình ra, thường kèm chán ăn, miệng nhạt, dạ dày lạnh, trên cơ sở của hai món nêu trên, món canh này dùng cải bẹ, ngò, gừng tươi và tiêu để tán hàn (trừ lạnh), thêm đâu phụ; thịt jambon để bồi bổ tỳ vị, tăng thêm sự thèm ăn, tiếp bước tăng nhanh chức năng tự hồi phục của cơ thể.

Ba món chữa cảm mạo phong nhiệt

Cảm mạo phong nhiệt với biểu hiện phát sốt tăng nặng; đau đầu; cổ họng sưng đau; nghẹt mũi; nước mũi vàng; khạc đàm dính hay vàng, kèm miệng khát thích uống nước, sợ gió. Tự soi gương quan sát thấy chót lưỡi đỏ; rêu trắng mỏng hơi vàng. Có thể nặng hơn sẽ nổi mụn; táo bón… Phương pháp điều trị với tân lương giải biểu (làm mát cho ra mồ hôi) là chính.

Cao bạc hà: bạc hà 15g sắc lấy nước để nguội, gạo tẻ 60g, thêm nước nấu cháo, chờ khi cháo chín, thêm nước sắc bạc hà và đường phèn vừa đủ, ăn lúc hơi ấm, vã mồ hôi là tốt. Bạc hà là thuốc sơ tán phong nhiệt, thêm gạo tẻ; đường phèn nấu cháo vừa giúp vã mồ hôi, lại có tác dụng bảo vệ dạ dày. Món cháo rất thích hợp cho người mới mắc bệnh.

cam maoBạc hà là thuốc sơ tán phong nhiệt

Tang cúc bạc hà ẩm: tang diệp (lá dâu) 6g, cúc hoa 6g, bạc hà 4g, lá tre 15g, mật ong một ít, thêm nước vừa đủ, nấu sôi, dùng uống thay trà. Lá dâu thanh phế nhiệt; cúc hoa sơ tán phong nhiệt, sáng mắt bình can; bạc hà là thuốc chính sơ phong tán hàn, giúp nhanh chóng giải trừ triệu chứng đau đầu. Cũng thích hợp cho người bệnh tăng huyết áp hay đau đầu; mắt mờ.

Bối mẫu - sa sâm hấp lê: lê 1 quả gọt vỏ, bối mẫu 6g; sa sâm 10g; bạc hà 4g và đường phèn vừa đủ, cùng cho vào trong bát thêm nước để hấp, chia ăn sáng và chiều, dùng liền vài ngày. món uống nhuận táo trị ho, hóa đàm tuyên phế (bổ phổi), nhất là thích hợp cho người cao tuổi; trẻ em sau khi mắc bệnh cảm sốt mà gây ra các triệu chứng như: ho khan đau họng; phổi nóng đàm vàng; hay mất thể dịch miệng khát; đại tiện táo kết…

LY.DS. BÀNG CẨM

Cao ban long

Cao ban long hay bạch giao, lộc giác giao được chế biến từ sừng già (gạc hay lộc giác) của con hươu hoặc con nai. Có khi phối hợp cả sừng hươu, sừng nai để được sản phẩm cao gọi là “mê lộc đồng công”.

Cách chế biến cụ thể như sau:

Trước hết, phải chọn sừng có phân nhánh thành chạc đều, đối xứng. Thân sừng có gốc to, bè ra như cái đĩa, lên trên thuôn nhỏ dần, có những đường khía dọc và nhiều mụn nhỏ lấm tấm, nhẵn bóng, màu nâu vàng, đầu nhánh màu nhạt hơn. Sừng rụng hằng năm hoặc sừng của hươu, nai săn bắn đều dùng được. Sừng của con vật còn sống tốt hơn vì còn dính liền với xương đầu (nhung liên tảng). Sừng rụng còn đế tốt hơn sừng không còn đế.

Đem sừng luộc bằng nước phèn 1% trong 10-15 phút hoặc ngâm sừng vào nước ấm để một đêm cho lớp ngoài sừng mềm ra. Có người còn xếp sừng đứng để đế sừng không chạm vào nước. Lấy ra, cạo hoặc đánh rửa bằng bàn chải tre hoặc sắt cho sạch hết lớp đen vàng bám bên ngoài sừng đến khi sừng trắng ra. Cưa sừng thành từng khúc dài 5-6cm, rồi chẻ thành những bản mỏng, cạo sạch tủy, súc qua với nước lã, phơi thật khô. Xếp sừng vào thùng nhôm, ở giữa đặt một rọ tre để múc dịch chiết ra. Đổ nước cho ngập dược liệu chừng 10cm. Đun sôi liên tục trong 24 giờ, nếu cạn nước thì thêm nước sôi vào, luôn giữ cho nước ngập sừng. Nếu có bọt nổi trên mặt thì vớt bỏ bọt. Rút nước chiết lần thứ nhất, đem cô riêng. Tiếp tục thêm nước sôi và đun sôi 24 giờ nữa. Rút nước chiết lần thứ hai, cô riêng. Tiếp tục làm lần thứ ba. Gộp 3 nước chiết lại, đánh đều, cô tiếp đến khi được cao đặc. Chú ý khi cô, phải để nhỏ lửa và khuấy luôn tay để cao khỏi cháy khê. Có nơi, người ta cô cao cách cát bằng cách đặt trên bếp lửa một miếng tôn to rồi đổ lên mặt tôn một lớp cát dày khoảng 5cm, đặt chảo lên cát. Đun đều lửa.

Khi cao đã được, đổ vào khay đã bôi dầu lạc hoặc mỡ lợn để khỏi dính. Để nguội, cắt thành bánh 50 hay 100g, gói giấy bóng hoặc giấy polyethylen, rồi bảo quản ở chỗ kín, khô và mát.

Cao ban long được làm từ sừng già của con hươu.

Sản phẩm cao ban long có màu nâu đến nâu sẫm. Trên mặt có những nếp nhăn to nhỏ không đều, có nhiều bọt hơi khi cắt, có thể có những vết lõm, sờ không dính tay. Thành phần chủ yếu của cao là keratin, trong đó có các acid amin như cytein, lencin, tyrosin, acid glutamic, arginin, alanin, lysin..., rất ít muối canxi.

Cao ban long có vị ngọt, mặn, tính ấm, vào hai kinh can và thận, không độc, có tác dụng bổ trung, ích khí, cường tinh, hoạt huyết, cầm máu, mạnh gân xương. Dược phẩm vậng yếu (Hải Thượng Lãn Ông) đã ghi: “Cao hươu nai, có tên gọi là bạch giao, bổ trung ích khí, uống lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ, thêm tủy, nhiều thịt, tươi mặt, mập khỏe, chủ yếu dùng trị nội thương nhọc mệt, eo lưng đau, gầy còm, phụ nữ huyết bế, không có con, yên thai khỏi đau, thổ huyết, băng huyết, chân tay đau nhức, ra nhiều mồ hôi, ngã gãy tổn thương. Phàm chứng thũng độc đã vỡ hoặc chưa vỡ, lấy một miếng bạch giao thấm nước dán vào, trên đầu để lỗ hổng thì mủ ra ngay, không có mủ thịt mụn tiêu. Thực sự là vị thuốc rất quý”.

Liều dùng hằng ngày: 5-10g, có thể đến 20g, cắt thành từng miếng mỏng, ngậm dần cho tan trong miệng, ăn với cháo nóng, hấp cách thủy với mật ong hoặc cho vào ít rượu, hâm nóng mà uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Thuốc bổ dùng cho người cao tuổi đang trong thể trạng suy yếu: Cao ban long và long nhãn, mỗi thứ 50g. Long nhãn cắt nhỏ, sắc với nước rồi cho cao ban long đã thái mỏng vào. Đun tiếp và khuấy đều cho tan cao. Để nguội, uống mỗi lần 10g vào sáng sớm và trước khi đi ngủ. (Cao “nhị long ẩm”, thuốc bổ cổ điển của Hải Thượng Lãn Ông).

Thuốc cho người lao lực, mệt mỏi, mới ốm khỏi, ra mồ hôi trộm, phụ nữ sau khi đẻ: Cao ban long 0,02g, cao ngũ gia bì chân chim 0,05g, mật ong 0,02g, triphosphat calci 0,07g, cho một viên. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 3-4 viên đối với người lớn; 2-3 viên cho trẻ em tùy tuổi (viên tăng lực của xí nghiệp dược phẩm).

Chữa nôn ra máu, thổ huyết, dạ dày và ruột chảy máu, tử cung xuất huyết, kinh nguyệt nhiều: Cao ban long 4g, bồ hoàng (phấn hoa cỏ nến) 5g, cam thảo 5g. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích

Nghệ trị bệnh đường tiêu hóa

Nghệ đã được sử dụng trong các bài thuốc Đông y với nhiều công dụng khác nhau. Thành phần chính của củ nghệ là chất màu curcumin. Tinh chất curcumin là chất có hoạt tính chống viêm cao có tác dụng hỗ trợ quá trình tiêu hóa lượng thức ăn thích hợp.

Nghệ có thể bảo vệ niêm mạc đường ruột và đường tiêu hóa, ức chế sự tạo khí, làm tăng lượng chất nhầy trong dịch vị, chống tổn thương viêm loét, ngăn chặn sự hình thành của loét dạ dày - tá tràng.

Đông y chia nghệ làm hai loại: nghệ vàng (củ cái gọi là khương hoàng, củ con gọi là uất kim) và nghệ tím (nga truật).

Nghệ bảo vệ niêm mạc đường ruột và đường tiêu hóa.

Khương hoàng: là củ cái phơi khô của cây nghệ (Curcuma longa L.) họ gừng (Gingiberaceae). Vị cay, đắng, tính ấm vào kinh tâm, can tỳ. Tác dụng: Phá huyết hành ứ, thông kinh chỉ thống, dùng điều kinh, chữa kinh nguyệt không đều, chữa các cơn đau do khí trệ; đau dạ dày, ợ chua, ăn kém đầy bụng. Lợi mật: dùng trong các bệnh viêm gan vàng da.

Bài thuốc: Khương hoàng 8g, hoàng liên 6g, nhục quế 3g, diên hồ sách 12g, uất kim 3g, nhân trần 12g. Sắc nước uống điều trị viêm dạ dày, viêm đường mật, bụng trướng, nôn mửa.

Uất kim: là củ nhánh con của cây nghệ (Curcuma longa L.) họ gừng (Zingiberaceae). Vị cay đắng tính lạnh vào kinh tâm, phế, can. Tác dụng: hành huyết phá ứ, hành khí giải uất, lợi đởm thoái hoàng chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh, thống kinh; Hành khí giải uất: Chữa các cơn đau do khí trệ như đau dạ dày, ngực bụng đầy trướng. Thanh can đởm thấp nhiệt: chữa viêm gan hoàng đản, xơ gan, viêm túi mật, sỏi mật. Ngày dùng 6 - 12g (dùng sống).

Bài thuốc: Bột uất kim hằng ngày uống 6g với nước sắc đảng sâm 12g uống hàng ngày trị sỏi mật.

Hoặc dùng bài: Kim tiền thảo 30g, màng mề gà 6g, uất kim 9g, kim ngân hoa 15g, đại hoàng sống 3g, chỉ thực 12g, nhân trần 30g. Ngày 1 thang, sắc 2 lần, uống sáng và chiều chữa viêm đường mật và sỏi mật.

Nga truật: là thân rễ phơi khô của cây nghệ tím (Curcuma zedoaria). Vị đắng, cay, tính ôn, vào can kinh. Tác dụng hành khí, phá huyết, tiêu tích hóa thực.

Chữa bệnh đường tiêu hóa: Viêm niêm mạc và loét hành tá tràng, ăn uống chậm tiêu, thường đau bụng không rõ nguyên nhân, buồn nôn, ho, kinh nguyệt không đều. Còn dùng làm thuốc bổ dưới dạng thuốc sắc, bột hoặc viên, có thể cho thêm mật ong.

Bài thuốc: Nga truật, tam lăng đều 5g, trần bì 10g, chế hương phụ 6g, la bạc tử 5g, sa nhân 3g, thanh bì, chỉ thực đều 6g, hồ hoàng liên, lô hội đều 3g, hồ tiêu 5g. Tất cả tán bột mịn trộn đều hồ hoàn, mỗi lần uống 3 - 6g, ngày 2 lần có tác dụng kích thích tiêu hóa.

Ngoài ra, các loại nghệ trên đều có thể tán bột dùng chung với mật ong ăn trực tiếp hoặc làm thành viên hoàn uống hằng ngày chữa đau dạ dày.

TS. Dương Trọng Nghĩa

Chữa đau mắt đỏ bằng những bài thuốc dân gian

Theo kinh nghiệm dân gian, những cây cỏ mọc tự nhiên quanh nhà, ngoài vườn có thể được tận dụng làm thuốc chữa bệnh đau mắt đỏ kịp thời và có kết quả tốt.

Dùng ngoài

Dành dành: Dùng lá tươi một nắm, rửa thật sạch bằng nước đun sôi để nguội, rồi tráng bằng nước muối pha loãng. Giã nhỏ lá, gói vào miếng gạc đã khử trùng, đắp lên mắt khi đi ngủ. Mỗi ngày làm một lần.

Diếp cá: Dùng cây tươi, bỏ rễ, rửa sạch, giã nát rồi ép vào hai miếng gạc sạch, đắp lên mắt khi đi ngủ.

Hoàng đằng: Rễ để tươi, rửa sạch, sấy nhẹ cho khô. Khi dùng, lấy 4g rễ tán nhỏ mịn cùng với phèn chua 2g, đem hấp cách thủy, rồi gạn lấy nước trong dùng nhỏ mắt (Nam dược thần hiệu). Hoặc dùng bột palmatin clohydrat (chiết xuất từ rễ hoàng đằng) pha chế thành thuốc nước với tỷ lệ 0,3-0,5%, để nhỏ mắt ngày hai lần.

Nhãn hương: Lấy ngọn có hoa, phơi âm can cho khô, 5-10g, tán nhỏ, hãm với 1 lít nước sôi. Đợi khi nước ấm, rửa mắt ngày hai lần.

Cúc bách nhật.

Dùng trong

- Cúc hoa vàng, thảo quyết minh, thanh tương tử, quả ích mẫu, sinh địa, lượng mỗi thứ 10g. Tất cả phơi khô, tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Hoặc cúc hoa vàng 4g, nụ hòe 4g, lá sen hoặc ngó sen 10g, hãm uống.

Bài khác: Cúc hoa vàng 8g; lá dâu 16g; nhân trần 16g; phòng phong, hoàng đằng, kinh giới, mạn kinh, mã đề, mỗi vị 12g; bạc hà 8g. Sắc uống ngày một thang.

- Mật mông hoa 9g; cúc hoa vàng, hoa kinh giới, long đởm thảo, phòng phong, bạch chỉ, mỗi vị 4g; cam thảo 2g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Hoặc mật mông hoa, cúc hoa, hạt mào gà trắng, mỗi thứ 12g; hoàng đằng 8g. Sắc hoặc ngâm rượu uống.

Bài khác: Mật mông hoa, bạc hà, kinh giới, hạt muồng sao, dành dành, huyền sâm, vỏ núc nác, ngưu tất, mạch môn, mỗi vị 12g. Sắc uống trong ngày.

- Dành dành: Hạt dành dành và hạt thảo quyết minh sao lên, mỗi thứ 16g. Sắc uống ngày một thang.

- Hoàng liên, dành dành, cúc hoa vàng, mỗi thứ 8g; bạc hà, xuyên khung, mỗi thứ 4g. Tất cả sắc với 400ml nước, lấy 100ml. Dùng một nửa nước sắc để xông mắt, còn một nửa uống khi thuốc còn ấm.

- Mạn kinh tử, hạt muồng sao, hạt đuôi mang, hạt mã đề, hạt ích mẫu, các vị lượng bằng nhau 12g, phơi khô, tán bột, rây mịn, làm viên, uống với nước chè hoặc sắc uống (Nam dược thần hiệu).

- Cỏ tháp bút, hạt mào gà trắng, lá dâu, cúc hoa vàng, mỗi thứ 12g; cỏ thanh ngâm 4g. Sắc uống và xông.

- Thảo quyết minh, dã cúc hoa, mỗi thứ 9g; mạn kinh tử, mộc tặc, mỗi thứ 6g. Sắc nước uống.

- Cúc bách nhật 15g, câu đằng 15g, bạch cương tàm 6g, cúc hoa 2g. Sắc uống ngày một thang.

DS. Hữu Bảo

Dược thiện chữa phù chânDược thiện chữa phù chânĐông y phòng trị sốt xuất huyếtĐông y phòng trị sốt xuất huyếtĐông y trị bệnh thương hànĐông y trị bệnh thương hàn

Bài thuốc cổ phương cho người cao tuổi

Với người già, khí huyết thường đã bị suy giảm, sức lực đã hao tổn, người thường hay mệt mỏi, da dẻ thường không còn hồng hào, ăn uống lại kém đi... Sau đây là một số cổ phương quý rất thích hợp với người già.

Thuốc bổ khí, nên dùng phương “Tứ quân tử thang”: nhân sâm (hoặc đảng sâm) 5g, bạch truật 5g, bạch linh 5g, cam thảo 3g. Mỗi ngày sắc một thang, uống 3 lần, sau bữa ăn. Nếu cảm giác lạnh bụng thì nhân sâm hoặc đảng sâm sao với nước gừng tươi, tới khô.

Thuốc bổ huyết, nên dùng phương “Tứ vật thang”: thục địa 5g, đương quy 5g, xuyên khung 5g, bạch thược 5g. Mỗi ngày sắc một thang, uống 3 lần, sau bữa ăn.

Thuốc bổ cả khí và huyết, nên dùng phương “Bát trân thang”: nhân sâm (hoặc đảng sâm) 5g, bạch truật 5g, bạch linh 5g, thục địa 5g, đương quy 5g, xuyên khung 5g, bạch thược 5g, cam thảo 3g. Mỗi ngày sắc một thang, uống 3 lần, sau bữa ăn.

Thuốc kiện tỳ, giúp các cụ ăn ngon miệng, nên dùng phương “Kiện tỳ thang”: đảng sâm 12g, trần bì 12g, chỉ thực 12g, mạch nha 12g, bạch truật 18g, sơn tra 9g. Mỗi ngày sắc một thang, uống 3 lần, sau bữa ăn.

Thuốc giảm chứng đau lạnh xương cốt, lưng gối; hoặc tiểu nhiều, tiểu đêm, nên dùng phương “Quế phụ địa hoàng hoàn”: thục địa 16g, sơn thù du 8g, mẫu đơn bì 6g, hoài sơn 6g, phục linh 6g, trạch tả 6g, nhục quế 3g, phụ tử (chế) 3g. Mỗi ngày sắc một thang, uống 3 lần, sau bữa ăn.

Thuốc tăng cường thị lực, ra gió không sợ chảy nước mắt, có thể dùng phương “Minh mục địa hoàng hoàn”: thục địa 16g, sơn thù du 8g, mẫu đơn bì 6g, hoài sơn 6g, phục linh 6g, trạch tả 6g, kỷ tử 4g, cúc hoa 4g, đương quy 6g, bạch thược 6g, bạch tật lê 6g, thạch quyết minh 6g. Mỗi ngày sắc một thang, uống 3 lần, trước bữa ăn.

Thuốc làm giảm mệt mỏi, làm da dẻ tươi nhuận; giảm chứng lạnh tay chân, thở ngắn hơi, nên dùng phương “Thập toàn đại bổ”: nhân sâm (hoặc đảng sâm) 5g, bạch truật 5g, bạch linh 5g, thục địa 5g, đương quy 5g, xuyên khung 5g, bạch thược 5g, cam thảo 3g, nhục quế 3g, hoàng kỳ 10g. Mỗi ngày sắc một thang, uống 3 lần, sau bữa ăn. Có thể thêm 10g đỗ trọng, 10g ba kích, 10g trần bì đem ngâm với rượu gạo khoảng 3 tuần đến một tháng là có thể uống được, mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 30-50ml trước bữa ăn.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh